Tư vấn hướng dẫn quản lý bể lọc nhanh an toàn hiệu quả nhất

Tư vấn hướng dẫn quản lý bể lọc nhanh an toàn hiệu quả nhất: Kết quả nghiên cứu cho thấy, bể lọc tự rửa là loại bể lọc có đặc điểm tự vận hành không có sự điều khiển của công nhân hay các thiết bị tự động phức tạp trong quá trình lọc cũng như quá trình rửa. Qua phân tích hiện trạng cấp nước nông thôn cho thấy, trong các loại bể lọc thì bể lọc nhanh  trọng lực không...

Tư vấn hướng dẫn quản lý bể lọc nhanh an toàn hiệu quả nhất: Kết quả nghiên cứu cho thấy, bể lọc tự rửa là loại bể lọc có đặc điểm tự vận hành không có sự điều khiển của công nhân hay các thiết bị tự động phức tạp trong quá trình lọc cũng như quá trình rửa. Qua phân tích hiện trạng cấp nước nông thôn cho thấy, trong các loại bể lọc thì bể lọc nhanh  trọng lực không van tự rửa có giá thành thấp, vận hành đơn giản, chi phí vận hành thấp, phù hợp với hệ thống cấp nước nông thôn và miền núi, góp phần tăng số dân được sử dụng nước sạch.

+ Tư vấn hướng dẫn quản lý bể lọc nhanh an toàn hiệu quả nhất

Kết quả nghiên cứu cho thấy, bể lọc tự rửa là loại bể lọc có đặc điểm tự vận hành không có sự điều khiển của công nhân hay các thiết bị tự động phức tạp trong quá trình lọc cũng như quá trình rửa. Qua phân tích hiện trạng cấp nước nông thôn cho thấy, trong các loại bể lọc thì bể lọc nhanh  trọng lực không van tự rửa có giá thành thấp, vận hành đơn giản, chi phí vận hành thấp, phù hợp với hệ thống cấp nước nông thôn và miền núi, góp phần tăng số dân được sử dụng nước sạch.

Quá trình lọc: Khi lọc nước, tốc độ lọc phải được giữ không đổi trong suốt chu kì làm việc của bể. Trong trường hợp cần thiết, muốn thay đổi tốc độ lọc, cần phải thay đổi từ từ, không được phép thay đổi đột ngột. Khi bắt đầu một chu kì lọc, phải giữ tốc độ lọc giá trị  2 ÷ 3m/h trong khoảng 10 ÷ 15 phút. Sau đó tăng dần đến tốc độ lọc bình thường. Trong suốt quá trình lọc, không được để mực nước ở bể lọc hạ xuống quá mức quy định.

Trong thực tế để giữ tốc độ lọc ổn định, người ta sử dụng  các loại thiết bị điều chỉnh tốc độ lọc. Ở các bể lọc đều phải được trang bị dụng cụ đo tốc độ lọc và tổn thất áp lực của bể lọc. Dụng cụ này có thể gắn trực tiếp trên bể lọc hoặc lắp trong các tủ  điều khiển cho các bể lọc nếu có. Các dụng cụ  đo lường  đều phải được kiểm tra định kì tối thiểu kì tối thiểu 6 tháng một lần.

Quá trình rửa bể lọc: Được tiến hành khi tổn thất áp lực trong bể đạt tới giá trị giới hạn hoặc vào thời điểm lượng nước lọc bắt đầu xấu đi. xác định thời điểm cần rửa lọc, bằng các thiết bị đo báo tự động hoặc bằng cách quan sát độ chênh mực nước trước và sau bể lọc khi quản lý vận hành thủ công.

Trước khi rửa bể lọc: Phải đóng van nước vào bể để hạ mức nước trong bể xuống dưới máng rửa. sau đó đóng van nước vào bể chứa vàm ở van xả.

+ Trình tự rửa lọc tiến hành như sau:

Khi rửa nước thuần túy: Phải  đảm bảo cường  độ rửa và thời gian rửa cần thiết.

Khi rửa lọc bằng gió và nước kết hợp, phải tuân theo quy trình sau: bơm không khí với cường độ 15 ÷ 20l/s-m2 sục cho bề mặt lọc đều làm cho nước đục gầu trong khoảng 1 ÷2 phút. Sau đó mở thêm van nước (phối hợp với gió) với lưu lượng nước hạn chế từ 2,5 ÷ 3l/s-m2 và quan sát kĩ không cho các tràn vào máng thu nước rửa trong khoảng 4 ÷5 phút.

Nếu có hiện tượng cát tràn vào máng thu phải lập tức đóng bớt van nước, nếu vẫn tràn thì phải đóng bản van nước. Sau đo tắt bơm không khí và tiếp tục mở van nước với  cường độ rửa nước thuần túy 5 ÷ 8l/s-m2 trong khoảng 4 ÷5 phút, cho đến lúc nước trên bề mặt trong hẳn. Thời gian này cũng phải quan sát xem cát có bị tràn ra máng  thu , nếu có phải có đóng bớt van nước lại. máy lọc nước tp vinh

Rửa lọc tốt biểu hiện ở chỗ phân phối  đều và  đủ lưu lượng nước rửa, thu nước đều khắp máng thu và không trôi sát ra ngoài. Việc tăng tổn thất áp lực ban đầu một cách liên tục chứng tỏ rửa không tốt và độ nhiễm bẩn còn lại trong lớp cát lọc nhiều.

Ngoài ra trong quá trình quản lý bể lọc, người ta phải lập kế hoạch kiểm tra định kì các bộ phận của bể lọc như sau: Kiểm tra chiều dày lớp vật liệu và quan sát bề mặt lớp lọc 3 tháng 1 lần. Trước khi rửa lọc, quan sát sự nhiễm bền lớp cát lọc, độ phân bố đều của cạn bẩn trên bề mặt bể lọc.

Xem xét sự có mặt của cặn tích lũy thành các hốc, hố dang hình phễu, các vết nứt trên mặt vật liệu lọc. Sau khi rửa lọc, quan sát trạng lớp cát, tìm chỗ rửa chưa đạt yêu cầu, độ nhiễm bẩn còn lại trên lớp học… Việc quan sát được tiến hành sau khi xả cho mực nước trong bể thấp hơn mặt cát lọc một chút (có thể 1 tháng 1 lần).

  • Kiểm tra các vị trí đáng dấu chiều dày lớp đỡ (6 tháng 1 lần).
  • Lấy mẫu cát để phân tích độ nhiễm bẩn (1 năm 1 lần).
  • Kiểm tra lượng cát bị hao hụt. Nếu cần phải đổ thêm cát lọc thì phải cắt bỏ lớp cát bị nhiễm bẩn ở trên mặt dày 3 ÷ 5 cm (6 tháng 1 lần).

Kiểm tra mặt phẳng của mép máng thu nước rửa, nếu không phẳng ngang thì phải mùi mép máng (1 năm 1 lần). Khi bể lọc phải ngừng để sản xuất, sau mỗi lần sản xuất bể phải được khử trùng bằng clo với nồng độ 20 ÷50mg/l, ngầm trong 24 giờ. Sau đó rửa bằng nước sạch, cho đến khi nước rửa chỉ còn lại 0,3mg/l clo dư được.

Bể lọc không van tự rửa được sử dụng cho các dây chuyền công nghệ xử lý nước như: hệ thống cấp nước tự chảy (nguồn nước là các khe, suối…cho vùng cao); dây chuyền công nghệ xử lý nước ngầm hàm lượng sắt nhỏ hơn 10 mg/l – 20 mg/l; dây chuyền công nghệ xử lý nước mặt với bể lọc tự rửa.  Ngoài ra, trong xử lý nước thải đặc biệt là nước thải mỏ, bể lọc tự rửa không van cũng sẽ được sử dụng để xử lý bậc 3 sau xử lý sinh học để cấp nước kỹ thuật cho rửa xe, tưới cây và các nhu cầu sử dụng khác đảm bảo hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

Có thể bạn quan tâm